Trung tâm khảo cứu và biên soạn
Địa chí Việt Nam
Chào mừng đến với website Trung tâm khảo cứu và biên soạn Địa chí Việt Nam.

Mộc bản Trường học Phúc Giang

18/03/202453

Mộc bản Trường học Phúc Giang là những cổ vật quý hiếm, duy nhất, cổ nhất về giáo dục của một dòng họ còn lưu giữ được ở Việt Nam. Năm 2016, Mộc bản được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Mộc bản Trường học Phúc Giang được các thầy giáo dòng họ Nguyễn Huy biên soạn và khắc in thành các tập sách để phục vụ việc dạy và học của Trường học Phúc Giang - một trường tư được Thám hoa Nguyễn Huy Oánh lập tại làng Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh vào giữa thế kỷ 18.

Mộc bản Trường học Phúc Giang là tập tư liệu gốc, hiện còn 383 bản được làm từ gỗ cây thị lâu năm, kích thước dài 25 - 30cm, rộng 15 - 18cm, dày 1 - 2cm. Mỗi bản khắc là một cổ vật quý hiếm, một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, được khắc tinh xảo. Chữ viết trên Mộc bản là chữ Hán ngược, được khắc đẹp, thanh thoát, với nhiều dạng chữ như: lệ thư, thảo thư, giản tự, dị tự, tục tự, cổ tự, chữ kiêng húy… hàm chứa nhiều giá trị.

Nội dung tư liệu Mộc bản phong phú, được chắt lọc từ tinh hoa Nho giáo, văn hóa giáo dục của khu vực, kết hợp nhuần nhuyễn với văn hóa bản địa. Các soạn giả đã bổ sung nhiều tư liệu của Việt Nam, như phần lịch sử các triều đại Việt Nam từ thời Đinh đến thời Trần cùng với các nhận xét, đánh giá các vị vua. Một số tư tưởng của Khổng giáo đã được tiếp thu có phê phán, ví như trong Kinh Xuân Thu, Trịnh Bá thì đề cao việc hiếu với mẹ trên đất nước, nhưng Nguyễn Huy Oánh thì lại đặt sự hiếu với đất nước lên trên. Mộc bản Trường học Phúc Giang là minh chứng cho việc kế thừa và phát huy Nho giáo.

Đặc biệt, khi soạn sách giáo khoa, các soạn giả đã tham khảo 9 bộ sách của nhiều danh sĩ và tác giả văn học, trong đó có 3 người từng đi sứ Trung Hoa: Nguyễn Tông Quai, Vũ Khâm Thận và Đỗ Huy; góp phần đào tạo được 5 sứ thần nổi tiếng: Nguyễn Duy Hoành, Ngô Thì Nhậm, Lê Hữu Dụng, Đỗ Huy Diễn và Nguyễn Đường, làm tăng cường các mối quan hệ trong sự nghiệp bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Ông Nguyễn Trí Sơn, Giám đốc Bảo tàng Văn hóa Lịch sử Hà Tĩnh, cho hay Mộc bản Trường học Phúc Giang được xem là một trong những tư liệu độc bản, duy nhất còn sót lại ở Việt Nam, được dòng họ Nguyễn Huy lưu giữ gần 250 năm nay.
Việc UNESCO ghi danh Mộc bản Trường học Phúc Giang đã làm lan tỏa giá trị Mộc bản Trường học Phúc Giang không chỉ ở phạm vi dòng họ Nguyễn Huy và nhân dân cả nước, mà còn trên phạm vi toàn cầu về tinh thần hiếu học và nét đẹp văn hóa truyền thống con người Việt Nam.

Phương Linh (tổng hợp)

Nguồn: quehuongonline.vn

Xem thêm: Thành phố lịch sử Ayutthaya

Các bài viết khác

Xem thêm
Nguồn: Internet
Địa chí25/08/2023

Hội An - Di sản văn hóa thế giới, Nghiên cứu lịch sử số 4 (2004)

Sau khi gia nhập Công ước Di sản thế giới năm 1987, đến nay Việt Nam đã có 6 di sản được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới (vật thể và phi vật thể) và Di sản thiên nhiên thế giới, trong đó Hội An là Di sản văn hoá thế giới được công nhận vào ngày 4-12-1999 (1). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu và nhận thức qua nhiều thập kỷ của các nhà khoa học Việt Nam và thế giới, trong đó có nhiều cống hiến quan trọng của các học giả Nhật Bản.

Quảng trường La Grand Place: Viên ngọc quý trong kho di sản
Tin tức khác04/03/2024

Quảng trường La Grand Place: Viên ngọc quý trong kho di sản

(HNMCT) - Khởi công xây dựng từ thế kỷ XII, rồi bị tàn phá hầu như hoàn toàn trong cuộc chiến ở thế kỷ XVII, nhưng quảng trường La Grand Place (thủ đô Brussels, Vương quốc Bỉ) vẫn được hồi sinh như một câu chuyện thần kỳ. Thành công vượt trội trong nỗ lực phục dựng, bảo tồn cũng như phát huy giá trị di sản là những lý do giúp La Grand Place được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thế giới vào năm 1998.

Nguồn: Internet

Đền Đông Cuông - Một điểm khởi đầu của tục thờ nữ thần Việt, Số 3 (16) - 2006 - Di sản văn hóa vật thể

Vượt qua “thời gian chiêm bao” mà tư duy con người còn chìm trong không gian hoang dã với hiện tượng thờ các lực lượng "hồn nhiên" như cây cỏ, đất đá, một khúc của ngã ba sông,... để rồi con người tiến lên xây dựng một tổ chức mang tính xã hội. Trên đường đi đó dần dần con người định hình nhân dạng cho các thần linh mà trong đó một vị thần linh cơ bản đầu tiên là nữ thần. Có thể tin được điều đó, bởi trong buổi hồng hoang, sự phân công lao động sớm nhất là phân công lao động nam - nữ. Nam thì săn bắn/bắt, công việc này bấp bênh, hôm được hôm không, thiếu tính chất thường xuyên để đảm bảo cuộc sống. Còn nữ giới với hái lượm rau củ trong rừng, đó là lương thực cơ bản để nuôi sống gia đình. Mặc nhiên vai trò của nữ trở nên cực kỳ quan trọng, do đó đã dẫn đến một hiện tượng khi nhân dạng hóa thần linh thì vị thần đó tất yếu mang dạng nữ. Khởi đầu, người Việt trông cậy vào của cải được thu lượm từ rừng nên người ta tôn trọng thần rừng, hội các điều kiện lại thì vị thần nhân dạng đầu tiên có thể nghĩ được là bà chúa rừng với nhiều chức năng khác nhau - Trước hết là thần của cải - Trong quá trình tồn tại, người ta hội dần vào bà nhiều chức năng, đầu tiên là bà “mẹ Thiêng liêng" với quyền năng vô bờ bến; một bà “mẹ Thế gian”, bởi người ta coi từ bà mà muôn loài nảy sinh và phát triển. Đồng thời bà là một thần linh đứng đầu bách thần nên bà còn mang tư cách là một đấng “vô cùng” - người Việt đã dần hội tất cả những gì linh thiêng liên quan vào chính bà Đông Cuông - một bà mẹ vũ trụ khởi nguyên của người Việt.