
Mộc bản Trường học Phúc Giang được các thầy giáo dòng họ Nguyễn Huy biên soạn và khắc in thành các tập sách để phục vụ việc dạy và học của Trường học Phúc Giang - một trường tư được Thám hoa Nguyễn Huy Oánh lập tại làng Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh vào giữa thế kỷ 18.
Mộc bản Trường học Phúc Giang là tập tư liệu gốc, hiện còn 383 bản được làm từ gỗ cây thị lâu năm, kích thước dài 25 - 30cm, rộng 15 - 18cm, dày 1 - 2cm. Mỗi bản khắc là một cổ vật quý hiếm, một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, được khắc tinh xảo. Chữ viết trên Mộc bản là chữ Hán ngược, được khắc đẹp, thanh thoát, với nhiều dạng chữ như: lệ thư, thảo thư, giản tự, dị tự, tục tự, cổ tự, chữ kiêng húy… hàm chứa nhiều giá trị.
Nội dung tư liệu Mộc bản phong phú, được chắt lọc từ tinh hoa Nho giáo, văn hóa giáo dục của khu vực, kết hợp nhuần nhuyễn với văn hóa bản địa. Các soạn giả đã bổ sung nhiều tư liệu của Việt Nam, như phần lịch sử các triều đại Việt Nam từ thời Đinh đến thời Trần cùng với các nhận xét, đánh giá các vị vua. Một số tư tưởng của Khổng giáo đã được tiếp thu có phê phán, ví như trong Kinh Xuân Thu, Trịnh Bá thì đề cao việc hiếu với mẹ trên đất nước, nhưng Nguyễn Huy Oánh thì lại đặt sự hiếu với đất nước lên trên. Mộc bản Trường học Phúc Giang là minh chứng cho việc kế thừa và phát huy Nho giáo.
Đặc biệt, khi soạn sách giáo khoa, các soạn giả đã tham khảo 9 bộ sách của nhiều danh sĩ và tác giả văn học, trong đó có 3 người từng đi sứ Trung Hoa: Nguyễn Tông Quai, Vũ Khâm Thận và Đỗ Huy; góp phần đào tạo được 5 sứ thần nổi tiếng: Nguyễn Duy Hoành, Ngô Thì Nhậm, Lê Hữu Dụng, Đỗ Huy Diễn và Nguyễn Đường, làm tăng cường các mối quan hệ trong sự nghiệp bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Ông Nguyễn Trí Sơn, Giám đốc Bảo tàng Văn hóa Lịch sử Hà Tĩnh, cho hay Mộc bản Trường học Phúc Giang được xem là một trong những tư liệu độc bản, duy nhất còn sót lại ở Việt Nam, được dòng họ Nguyễn Huy lưu giữ gần 250 năm nay.
Việc UNESCO ghi danh Mộc bản Trường học Phúc Giang đã làm lan tỏa giá trị Mộc bản Trường học Phúc Giang không chỉ ở phạm vi dòng họ Nguyễn Huy và nhân dân cả nước, mà còn trên phạm vi toàn cầu về tinh thần hiếu học và nét đẹp văn hóa truyền thống con người Việt Nam.
Phương Linh (tổng hợp)
Nguồn: quehuongonline.vn
Xem thêm: Thành phố lịch sử Ayutthaya
Làng xã - đơn vị cơ sở nền tảng kinh tế - xã hội - văn hóa thời Trần đã từng được nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới nhiều góc độ và vấn đề liên quan khác nhau, chẳng hạn như: Làng xã trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên của Phùng Văn Cường. Mỹ thuật làng xã thời Trần của Chu Quang Chứ trong Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, 1977, tập I; Chế độ quân chủ quý tộc đời Trần của Nguyễn Hồng Phong, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4-1986; hoặc Chế độ đất công làng xã, trong Chế độ ruộng đất ở Việt Nam, tập I của Trương Hữu Quýnh năm 1982. Thái ấp - điền trang thời Trần (thế kỷ XIII- XIV) của Nguyễn Thị Phương Chi, xuất bản năm 2002... Nhìn chung, những công trình trên đã đưa ra cách nhìn nhận khác nhau và cung cấp thông tin hữu ích giúp hiểu biết nhiều hơn mặt này hay mặt khác về làng xã thời Trần.
Sau hơn 40 năm cất giữ, hai pháp khí đóa sen và con ốc trên tượng Bồ tát Tara đã được người dân bàn giao cho ngành văn hóa.
Chiếc ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” nằm trong số 14 “kim ngọc, bảo tỷ” (ấn vàng, ấn ngọc) mà Hoàng đế Minh Mạng đã cho chế tác vào thời ông trị vì (1820-1841). Trong đó, 13 chiếc vẫn đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. Chiếc duy nhất còn lại chính là ấn “Hoàng đế chi bảo” có số phận gian truân, nhưng cuối cùng cũng được hồi hương về cố quốc mới đây, tạo ra được một bộ sưu tập ấn thời Minh Mạng hoàn mỹ, toàn vẹn.