Trung tâm khảo cứu và biên soạn
Địa chí Việt Nam
Chào mừng đến với website Trung tâm khảo cứu và biên soạn Địa chí Việt Nam.

Hòn đảo duy nhất Việt Nam nổi lên một lần rồi biến mất vĩnh viễn trong lòng biển, là hòn đảo nào? Ở đâu?

09/10/20241.225

Hòn đảo núi lửa này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn trước khi hoàn toàn biến mất vào lòng biển sâu.

Hòn Tro hay còn được gọi là đảo tro (tiếng Pháp: île des Cendres), là một hòn đảo mới hình thành vào năm 1923 ở phía Nam đảo Phú Quý (thuộc tỉnh Bình Thuận), trên vùng biển ngoài khơi Nam Trung Bộ, Việt Nam. Hòn đảo núi lửa này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn trước khi hoàn toàn biến mất vào lòng biển sâu.

Vào đầu năm 1923, người dân địa phương ven quần đảo Phú Quý đã chứng kiến một hiện tượng kỳ vĩ: cột khói lửa khổng lồ bốc cao cùng tiếng nổ vang dội giữa đại dương. Sự kiện địa chất này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện một hòn đảo, được gọi là Hòn Tro.

Theo lời kể của các bô lão và ghi chép từ thủy thủ tàu Vacasamaru của Nhật Bản, khu vực này xuất hiện cột khói đen dày đặc, bốc cao hơn 2.000m, cùng tiếng nổ vang dội liên hồi. Núi lửa phun trào dữ dội vào ngày 8/3/1923, nhưng chỉ với cường độ yếu. Sau một tuần tạm ngừng, ngọn núi lửa phun trở lại lần cuối vào ngày 20/3/1923.

Đứng trên đỉnh núi Cấm nhìn ra khơi, Hòn Tro đã chìm sâu dưới biển, chỉ còn trong ký ức dân gian và trong những tài liệu khoa học. Ảnh: P.X.D

Sự xuất hiện của Hòn Tro sau hoạt động núi lửa ngoạn mục đã thu hút sự chú ý đặc biệt của giới khoa học thời bấy giờ. Ghi chép lịch sử cho thấy vào ngày 13/3/1923, đoàn khảo sát thủy văn Pháp ở Đông Dương được giao nhiệm vụ khẩn cấp tìm hiểu về hòn đảo mới hình thành tại quần đảo Phú Quý. Chỉ 4 ngày sau, vào ngày 17/3/1923, họ đã có mặt tại hiện trường, tiến hành khảo sát thực địa và vẽ bản đồ chi tiết khu vực Hòn Tro. Kết quả khảo sát được trình bày lên Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, hé mở bức tranh về kỳ quan thiên nhiên độc đáo này.

Mặc dù Hòn Tro đã tan biến vào lòng đại dương, ký ức về hòn đảo núi lửa phù du này vẫn ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử địa chất và trong lòng người dân địa phương.

Theo ghi chép, Hòn Tro được hình thành từ những đống mảnh vụn màu đen, nhẹ xốp - đặc điểm điển hình của tro núi lửa, do đó, hòn đảo được đặt tên là "Hòn Tro". Bề mặt đảo xuất hiện nhiều khối đặc sít hơn, tập trung chủ yếu ở đỉnh điểm cao nhất, nơi có độ cao 0,75m và bề ngang 0,5m. Hòn đảo mang hình dạng trăng lưỡi liềm hay móng ngựa, với hai đầu nhọn bị cắt gọt thành vách đứng.

Tuy nhiên, Hòn Tro chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi. Ba tháng sau khi xuất hiện, hòn đảo đã biến mất hoàn toàn. Các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng Hòn Tro có thể đã bị bào mòn và tan rã bởi sức mạnh của sóng gió, do cấu tạo từ những sản phẩm núi lửa chưa được kết dính chặt chẽ. Do đó, Hòn Tro được mệnh danh là "hòn đảo phù du", chỉ để lại dấu ấn trong ký ức dân gian và những trang sử liệu khoa học.

Việc thiết lập một trạm quan sát địa chấn tại đảo Phú Quý, nơi có vị trí gần gũi với cụm núi lửa Hòn Tro, là một bước đi thiết yếu.

Mặc dù Hòn Tro đã tan biến vào lòng đại dương, ký ức về hòn đảo núi lửa phù du này vẫn ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử địa chất và trong lòng người dân địa phương. Tuy nhiên, sự biến mất của Hòn Tro không đồng nghĩa với việc hoạt động núi lửa ở Nam Trung Bộ đã chấm dứt. Trên thực tế, nhiều nhà khoa học lo ngại rằng những ngọn núi lửa ẩn chứa dưới đáy biển trong khu vực này, đặc biệt là khu vực Hòn Tro, vẫn có thể “thức giấc” bất cứ lúc nào.

Hòn Tro không còn, tuy nhiên một số nhà khoa học lo ngại hoạt động núi lửa ở Nam Trung Bộ vẫn có thể xuất hiện, đặc biệt là khu vực Hòn Tro. Do đó, việc thiết lập một trạm quan sát địa chấn ở đảo Phú Quý sát với cụm núi lửa Hòn Tro nhằm theo dõi và dự báo sự xuất hiện của chúng qua những chấn động nhỏ trước khi phun là cần thiết.

Nguồn: doanhnghiepvn.vn

Xem thêm: Con sông hẹp nhất thế giới gây sửng sốt

 

Các bài viết khác

Xem thêm
Nguồn: Internet
Gia phả16/08/2023

Quan điểm của Nguyễn Trường Tộ về con đường cứu nước ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, Nghiên cứu Lịch sử, số 4. 2009

Cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ là một sự nỗ lực học hỏi và tìm tòi. Phương châm của ông là nghiên cứu kỹ “quốc sử” (lịch sử dân tộc) và “quan sát thế giới”, “chịu khó nghiên cứu cho sâu, học cho hết” rồi "đem những điều đã đọc được trong sách nghiệm ra việc đời”. Với phương châm và mục đích nghiên cứu ấy, Nguyễn Trường Tộ cho rằng: nước Đại Nam muốn bảo vệ độc lập thì phải thực hiện một chính sách ngoại giao đa phương và tiến hành canh tân đất nước.

Đôi nét về sự hình thành làng xã ở Khánh Hòa từ 1653 đến đầu thế kỷ XX
Địa chí14/06/2023

Đôi nét về sự hình thành làng xã ở Khánh Hòa từ 1653 đến đầu thế kỷ XX

Khác với sự hình thành làng xã ở miền Bắc, làng của người Việt ở Khánh Hòa hình thành trong một bối cảnh khá đặc biệt, gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc, cụ thể là thời kỳ Nam tiến của người Việt.

Dấu tích cảng bến - Thương mại và đặc điểm kinh tế, tín ngưỡng vùng hạ lưu sông Thái Bình thế kỷ XVII-XVIII (Qua các kết quả khảo sát thực địa và tư liệu văn hóa) (Tiếp theo và hết)
Địa chí15/09/2023

Dấu tích cảng bến - Thương mại và đặc điểm kinh tế, tín ngưỡng vùng hạ lưu sông Thái Bình thế kỷ XVII-XVIII (Qua các kết quả khảo sát thực địa và tư liệu văn hóa) (Tiếp theo và hết)

2. Vùng hạ lưu sông Thái Bình thế kỷ XVII - XVIII qua tư liệu văn bia. Văn bia vùng hạ lưu sông Thái Bình được chúng tôi lựa chọn phân tích bao gồm 266 tấm bia (21) của 140 xã thôn bên bờ các dòng sông Luộc, sông Mía, sông Thái Bình, sông Văn Úc thuộc các huyện Tiên Minh, An Lão, Nghi Dương, Tứ Kỳ của trấn Hải Dương thời Lê (tương đương khu vực thuộc các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão, Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng và huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay). Như vậy, trung bình mỗi xã ở khu vực này có 1.9 bia. Nếu chỉ tính các làng xã có văn bia thì trung bình có 3.8 bia/1 đơn vị làng xã (con số này ở Kinh Bắc chỉ có 3.2) (22). Trong tổng số các đơn vị hành chính, số làng xã có văn bia chiếm gần 50% (trong khi đó trên toàn bộ trấn Kinh Bắc số làng xã có văn bia chỉ chiếm 28,4%) (23) tổng số các đơn vị xã thôn.