Trung tâm khảo cứu và biên soạn
Địa chí Việt Nam
Chào mừng đến với website Trung tâm khảo cứu và biên soạn Địa chí Việt Nam.

Quảng trường La Grand Place: Viên ngọc quý trong kho di sản

04/03/2024936

(HNMCT) - Khởi công xây dựng từ thế kỷ XII, rồi bị tàn phá hầu như hoàn toàn trong cuộc chiến ở thế kỷ XVII, nhưng quảng trường La Grand Place (thủ đô Brussels, Vương quốc Bỉ) vẫn được hồi sinh như một câu chuyện thần kỳ. Thành công vượt trội trong nỗ lực phục dựng, bảo tồn cũng như phát huy giá trị di sản là những lý do giúp La Grand Place được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thế giới vào năm 1998.

Nhận xét về La Grand Place, các chuyên gia của UNESCO cho rằng, đây là một ví dụ đặc biệt về sự pha trộn phong cách kiến trúc Gothic, Baroque (bắt nguồn từ Italia) và Phục hưng (được xem là sự hồi sinh của văn hóa Hy Lạp và La Mã cổ đại). Qua thời gian, La Grand Place vẫn tồn tại một cách thần kỳ và trở thành biểu tượng cho sự thịnh vượng của Vương quốc Bỉ cũng như khu vực Tây Bắc Âu.

Nhiều tài liệu ghi lại, từ đầu thế kỷ XII, La Grand Place có diện tích chừng 2ha, nguyên là một khu chợ dọc theo con đường thương mại quan trọng kết nối các khu vực thịnh vượng của Rhineland và quận Flanders. Xung quanh chợ, tức quảng trường ngày nay, là trụ sở các nghiệp đoàn như Nhà bánh mì (Broodhuis), Nhà của công tước (Duke’s House), Nhà của vua (Maison du Roy)... Vào đầu thế kỷ XIII, 3 khu chợ trong nhà được xây dựng ở rìa phía bắc của La Grand Place, gồm chợ thịt, chợ bánh mỳ và chợ vải. Những tòa nhà này thuộc về công tước Brabant, nó cho phép hàng hóa được trưng bày ngay cả khi thời tiết xấu. Nó cũng cho phép công tước theo dõi việc lưu trữ và bán hàng hóa để thu thuế. 

Từ năm 1402 tới 1455, nhiều công trình tiếp tục được xây dựng xung quanh khu vực này. Nổi bật nhất là Tòa thị chính do kiến trúc sư Jacob van Thienen thiết kế và xây bên cánh trái. Sau đó, kiến trúc sư Jean van Ruysbroeck kế thừa và xây tiếp một tòa tháp cao 96m, tạo thành một điểm nhấn đặc biệt của tòa nhà. Trên đỉnh tháp là một bức tượng Thánh Michael cao 5m, làm bằng kim loại mạ vàng. Đây được cho là vị thánh bảo hộ cho Brussels.

Tháng 8-1695, dưới quyền chỉ huy của Thống chế Francois de Neufvill, 70.000 quân Pháp đã nã đạn vào trung tâm thành phố liên tục trong 3 ngày nhằm giảm áp lực cho thành phố Namur đang bị quân Liên minh Augsburg vây hãm (trong cuộc chiến tranh 9 năm giữa vua Louis XIV của Pháp với Liên minh Augsburg). La GrandPlace bị biến thành bình địa, chỉ còn sót lại những bức tường bằng đá của Tòa thị chính và vài nhà khác. 

Bốn năm sau đó, khu vực quảng trường được xây dựng lại nhờ sự hợp lực của các nghiệp đoàn. Dưới sự điều phối Hội đồng thành phố, các công trình xây dựng lại tương đối hài hòa, mặc dù mang nhiều kiểu kiến trúc khác nhau. UNESCO cho rằng, chiến dịch “hồi sinh” La Grand Place gây ấn tượng ngoạn mục không chỉ bởi tốc độ thực hiện mà còn bởi sự phong phú về thẩm mỹ và sự gắn kết về mặt kiến trúc.

Kể từ khi được phục dựng vào thế kỷ XVII, La Grand Place được gìn giữ gần như nguyên vẹn cho tới ngày nay. Lượng du khách tới thăm quảng trường này khoảng 4 triệu lượt người/năm. Trong cái nhìn của du khách, đến đây, người ta như lạc vào câu chuyện sống động của những quý tộc châu Âu thời kỳ tiền hiện đại.

Để thu hút khách du lịch, chính quyền Brussels đã tổ chức nhiều sự kiện độc đáo, như lễ hội văn hóa Ommegang. Điểm nhấn của lễ hội là cuộc diễu hành của hàng nghìn tình nguyện viên trong trang phục truyền thống, tái hiện một nghi thức tôn giáo kỷ niệm chuyến viếng thăm của vua Charles Quint tới thành phố này vào năm 1549. Đức vua cũng chính là người đã đưa Brussels trở thành thủ đô đế chế của mình. Tham gia lễ hội, người xem được thưởng thức những vũ khúc dân gian, những màn biểu diễn cùng với những lá cờ khổ lớn đủ màu sắc.

Sự kiện hút khách tiếp theo là triển lãm thảm hoa được tổ chức 2 năm một lần vào tháng 8. Tấm thảm màu sắc rực rỡ phủ kín quảng trường được làm từ hàng vạn bông hoa. Đây cũng là thời điểm La Grand Place nhộn nhịp nhất. Du khách có thể mua hàng lưu niệm, hoặc vừa tắm nắng vừa ngồi nhâm nhi ly cà phê để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nơi này. Tất cả không gian quanh quảng trường đều dành cho khách bộ hành. Không một loại phương tiện di chuyển nào được phép chạy qua, ngoại trừ xe công vụ, xe cảnh sát, xe cứu thương và cứu hỏa trong trường hợp khẩn cấp.

Để hiểu hơn về lịch sử của La Grand Place, du khách có thể viếng thăm Nhà bánh mì hoặc Nhà của Vua, giờ đây đã được sử dụng làm bảo tàng. Tại đây, du khách sẽ thấy các bức tranh, đồ vật, chạm khắc và hình ảnh minh họa lịch sử của quảng trường từ thế kỷ XII đến ngày nay. Thành phố cũng mở những chuyến tham quan có hướng dẫn vào trong tòa Thị chính vào thời điểm quy định.

Ngoài công việc bảo tồn được thực hiện nghiêm ngặt, chính quyền Brussels cũng ban hành nhiều quy định về xây dựng quanh La Grand Place để bảo vệ vùng lõi di sản. Cụ thể, vùng trong vòng bán kính từ 1,5 - 2km tính từ trung tâm quảng trường được coi là vùng đệm, các công trình xây dựng trong khu vực này sẽ bị giới hạn về chiều cao để không làm ảnh hưởng tới hậu cảnh của La Grand Place.

Sau 25 năm được công nhận là di sản thế giới, La Grand Place luôn được UNESCO đánh giá cao về công tác bảo tồn và phát huy giá trị. Quảng trường này cũng liên tục được bình chọn trong danh sách những di sản đẹp nhất thế giới.

Nguồn: hanoimoi.vn

Xem thêm: Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng

Các bài viết khác

Xem thêm
Về biển Cổ Thạch “săn rêu”
Tin tức khác23/10/2024

Về biển Cổ Thạch “săn rêu”

Du lịch Bình Thuận không chỉ nổi tiếng với Phan Thiết, La Gi mà còn có một Cổ Thạch ở Tuy Phong hữu tình, đặc biệt là đang bắt đầu vào mùa rêu.

3 điểm đến lịch sử ở Bình Định
Địa chí22/08/2024

3 điểm đến lịch sử ở Bình Định

Ngoài biển đảo, du khách có thể khám phá cơ sở in chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta, hoặc uống nước từ giếng cổ nhà Tây Sơn.

Nguồn: Internet

Đền Đông Cuông - Một điểm khởi đầu của tục thờ nữ thần Việt, Số 3 (16) - 2006 - Di sản văn hóa vật thể

Vượt qua “thời gian chiêm bao” mà tư duy con người còn chìm trong không gian hoang dã với hiện tượng thờ các lực lượng "hồn nhiên" như cây cỏ, đất đá, một khúc của ngã ba sông,... để rồi con người tiến lên xây dựng một tổ chức mang tính xã hội. Trên đường đi đó dần dần con người định hình nhân dạng cho các thần linh mà trong đó một vị thần linh cơ bản đầu tiên là nữ thần. Có thể tin được điều đó, bởi trong buổi hồng hoang, sự phân công lao động sớm nhất là phân công lao động nam - nữ. Nam thì săn bắn/bắt, công việc này bấp bênh, hôm được hôm không, thiếu tính chất thường xuyên để đảm bảo cuộc sống. Còn nữ giới với hái lượm rau củ trong rừng, đó là lương thực cơ bản để nuôi sống gia đình. Mặc nhiên vai trò của nữ trở nên cực kỳ quan trọng, do đó đã dẫn đến một hiện tượng khi nhân dạng hóa thần linh thì vị thần đó tất yếu mang dạng nữ. Khởi đầu, người Việt trông cậy vào của cải được thu lượm từ rừng nên người ta tôn trọng thần rừng, hội các điều kiện lại thì vị thần nhân dạng đầu tiên có thể nghĩ được là bà chúa rừng với nhiều chức năng khác nhau - Trước hết là thần của cải - Trong quá trình tồn tại, người ta hội dần vào bà nhiều chức năng, đầu tiên là bà “mẹ Thiêng liêng" với quyền năng vô bờ bến; một bà “mẹ Thế gian”, bởi người ta coi từ bà mà muôn loài nảy sinh và phát triển. Đồng thời bà là một thần linh đứng đầu bách thần nên bà còn mang tư cách là một đấng “vô cùng” - người Việt đã dần hội tất cả những gì linh thiêng liên quan vào chính bà Đông Cuông - một bà mẹ vũ trụ khởi nguyên của người Việt.