Cổng trời Quản Bạ - địa danh nổi tiếng của Hà Giang nằm cách trung tâm thành phố khoảng 43km, du khách sẽ phải khi đi qua nhiều cung đường uốn lượn bên sườn núi để tới được nơi đây.

Cổng trời sở hữu độ cao hơn 1.500m so với mực nước biển, được xem là nơi giao thoa đất - trời.
Cổng trời sở hữu độ cao hơn 1.500m so với mực nước biển, được xem là nơi giao thoa đất - trời, nằm giữa 2 đỉnh núi và hạ thấp vừa đủ một con đường chạy qua và cũng chính là đoạn đầu của con đường hạnh phúc, cửa ngõ đầu tiên của Hà Giang.
Bên cạnh đó, đây còn là nơi gắn liền với những di tích lịch sử, những câu chuyện, những dấu mốc lịch sử. Trải qua hàng bao nhiêu năm nơi đây vẫn tồn tại với thời gian, đã thu hút được một lượng đông đảo khách du lịch về tham quan.
Điều gây ấn tượng và níu chân du khách nhất khi đến với cổng trời Quản Bạ là ngắm nhìn núi đôi Cô Tiên (hay còn gọi là núi đôi Quản Bạ) là một cảnh quan độc nhất vô nhị, vô cùng hấp dẫn mà thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất Hà Giang. Phong cảnh nơi đây là tuyệt tác của tạo hóa với những đám mây vờn giăng khắp lối tạo nên khung cảnh thiên nhiên thơ mộng. Ngọn núi đôi tượng trưng cho bầu sữa mẹ, gắn liền với sự tích đầy cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng.

Núi đôi Cô Tiên, điều gây ấn tượng và níu chân du khách nhất khi đến với cổng trời Quản Bạ.
Ngoài ra, để tạo nhiều cảnh quan thu hút du khách khi đến với khu vực Cổng trời Quản Bạ, theo khuyến cáo của các chuyên gia UNESCO, huyện Quản Bạ đã tích cực tôn tạo, tu sửa chỉnh trang, trồng hoa, đầu tư xây dựng chòi chụp ảnh ngắm trọn núi đôi Cô Tiên và thị trấn Tam Sơn xinh đẹp.
Đứng từ trên cổng trời Quản Bạ nhìn xuống du khách sẽ nhìn thấy đâu đó hình ảnh những ngôi nhà, khói bếp, nếp sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số Mông, Tày, Nùng. Với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng, không khí trong lành và cuộc sống bình yên của đồng bào nơi đây đem lại cho du khách cảm giác thư thái, bình yên đến lạ thường.

Đứng từ trên cổng trời Quản Bạ nhìn xuống du khách sẽ nhìn thấy đâu đó hình ảnh những ngôi nhà, khói bếp, nếp sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số Mông, Tày, Nùng.
Trao đổi với pv, chị Lê Thị Nhật Lệ, du khách đến từ tỉnh Nha Trang cho hay: "Đây là lần đầu tiên tôi đến với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên Đá Đồng Văn. Điểm dừng chân đầu tiên tại cổng trời Quản Bạ mọi thành viên trong đoàn đều choáng ngợp bởi vẻ đẹp của tạo hóa thiên nhiên,cảnh sắc và con người Quản Bạ. Bước qua cổng trời như bước vào một cánh cửa mở ra một thế giới mới bồng bềnh mây trắng".

Du khách chụp ảnh lưu niệm tại khu vực Cổng trời Quản Bạ.
Trong thời gian tới, huyện Quản Bạ sẽ tiếp tục quan tâm, có những giải pháp nhằm thức đẩy sự phát triển lĩnh vực du du lịch, tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, quảng bá và giới thiệu về những địa danh, danh lam thắng cảnh, đất và con người quê hương Quản Bạ. Trong đó, đặc biệt là nâng cao chất lượng phục vụ du khách, cũng như tạo nhiều điểm nhấn cho các khu vực du lịch trên địa bàn huyện.
Trung Quyết
Nguồn: www.congluan.vn
Xem thêm: Lễ hội Đền Hùng – 1 trong 5 lễ hội văn hóa tâm linh lớn nhất Việt Nam
Trong lịch sử Việt Nam, đối với các triều đại trước thời Nguyễn, mà tiêu biểu là dưới thời Lê, sự thay đổi trang phục hầu như chỉ diễn ra ở tầng lớp hoàng thân quốc thích, quý tộc, quan lại, chủ yếu là trang phục dành cho đời sống hoàng gia và việc thực hành các nghi lễ tế tự trong cung đình (tức Lễ phục và Tế phục).
Dưới góc độ kỹ thuật, Vạn Lý Trường Thành vượt Kim tự tháp nhiều lần về độ khó và quy mô trong công cuộc xây dựng...
2. Vùng hạ lưu sông Thái Bình thế kỷ XVII - XVIII qua tư liệu văn bia. Văn bia vùng hạ lưu sông Thái Bình được chúng tôi lựa chọn phân tích bao gồm 266 tấm bia (21) của 140 xã thôn bên bờ các dòng sông Luộc, sông Mía, sông Thái Bình, sông Văn Úc thuộc các huyện Tiên Minh, An Lão, Nghi Dương, Tứ Kỳ của trấn Hải Dương thời Lê (tương đương khu vực thuộc các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão, Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng và huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay). Như vậy, trung bình mỗi xã ở khu vực này có 1.9 bia. Nếu chỉ tính các làng xã có văn bia thì trung bình có 3.8 bia/1 đơn vị làng xã (con số này ở Kinh Bắc chỉ có 3.2) (22). Trong tổng số các đơn vị hành chính, số làng xã có văn bia chiếm gần 50% (trong khi đó trên toàn bộ trấn Kinh Bắc số làng xã có văn bia chỉ chiếm 28,4%) (23) tổng số các đơn vị xã thôn.