Năm 1749, những cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi dậy khắp nơi, uy hiếp trực tiếp Kinh thành Thăng Long. Trước tình thế đó, chúa Trịnh bấy giờ là Trịnh Doanh bèn truyền lệnh đắp lại thành lũy theo dấu tích của thành Đại La cũ, đặt tên là thành Đại Đô. Thành Đại Đô có 8 cửa, mỗi cửa đặt hai ô về bên phải và bên trái, có lính canh giữ suốt ngày đêm để bảo vệ Kinh thành.
Thành Đại Đô do chúa Trịnh sai đắp có quy mô nhỏ hơn nhiều so với thành lũy dưới thời nhà Mạc. Những vùng đất rộng lớn như quanh khu vực Hồ Tây và khu “thập tam trại” trở thành khu vực ngoại thành. Thành Đại Đô thời Trịnh Doanh đã cắt hẳn những vùng rộng lớn ấy ra khỏi Kinh thành.
Căn cứ vào những dấu tích của các cửa ô và con đê bao quanh phía Đông Kinh thành, vốn tồn tại tới tận cuối thế kỷ XIX, các nhà sử học đưa ra nhận định, mặt Đông của Đại Đô thành chạy dọc từ Yên Phụ tới Bến Nứa, dọc theo khu vực phố Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Hàng Chuối ngày nay, nối với mặt thành phía Nam. Mặt thành phía Nam chạy qua ô Cầu Dền, ô Chợ Dừa. Mặt phía Tây cũng được đắp lại, lấy mặt là ô Yên Hoa (Yên Phụ) mà không chạy qua Nhật Chiêu (Nhật Tân) như thành nhà Mạc. Nói cách khác, thành Đại Đô gần như có hình tam giác, ôm trọn khu vực Hoàng thành dành cho vua, hoàng tộc và triều đình, cùng khu vực phủ Chúa Trịnh vốn nằm phía Đông hồ Hoàn Kiếm ngày nay.
Theo mô tả của Lê Hữu Trác về thành Đại Đô vào năm 1782 – 1783 trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự thì đó là “một dãy thành đất không cao lắm, bên cạnh là một tường nhỏ, mặt trên là đường xe ngựa đi, ở mé ngoài là hàng rào tre kín. Dưới chân tường là hào sâu. Trong hào thả chông, xem ra rất kiên cố. Thành có ba vọng canh, nơi nào cũng có lính xếp hàng, gươm súng sáng quắc”. Đoạn thành mà Lê Hữu Trác mô tả là cửa Vũ Quan (nay thuộc khu ô Chợ Dừa).
Như trên đã nói, Đại Đô có 8 cửa, mỗi cửa gồm 2 cửa ô bên phải và bên trái. Như vậy, Đại Đô được thông với bên ngoài bằng 16 cửa ô. Hầu hết 16 cửa ô ấy đều đã bị phá hủy. Tuy vậy, may mắn là cửa ô Quan Chưởng (trước gọi là ô Đông Hà), vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay. Cửa ô này hiện nằm trên phố Ô Quan Chưởng, đầu phố Hàng Chiếu, gần dưới chân cầu Chương Dương.
Nguồn: hoangthanhthanglong.vn
Giống như nhiều hình thái tôn giáo dân gian khác ở Việt Nam, nghi lễ lên đồng thờ thánh chỉ được xem là một dạng diễn xướng dân gian mà chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng những giá trị của nó về thể thức và ý nghĩa. Cùng với công trình “Nghi lễ lên đồng: lịch sử và giá trị” xuất bản năm 2013 (Nxb. Văn hóa), tác giả bài viết này mong muốn làm rõ giá trị và ý nghĩa tôn giáo của nghi lễ lên đồng, một nghi lễ hiện vẫn còn những điều tồn nghi.
Bài viết phân tích khái niệm tư tưởng làng xã, mối liên hệ giữa tư tưởng làng xã với văn hóa làng xã, tư tưởng làng xã với tư tưởng quan phương, tính chất và nội dung của tư tưởng làng xã.... Theo tác giả, tư tưởng làng xã có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, có những đặc thù riêng. Tư tưởng làng xã đã và đang tồn tại lâu dài trong cư dân nông nghiệp, có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển của nông thôn Việt Nam.
Hương ước đã xuất hiện từ thời Lê Thánh Tông, nó tồn tại tương đối phổ biến trong các làng Việt ở đồng bằng trung du Bắc bộ. Đây là nguồn sử liệu quý giúp chúng ta nghiên cứu về phương thức quản lý nông thôn truyền thống khá hiệu quả của cha ông để suy nghĩ các biện pháp đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa hiện nay. Hương ước gồm các điều ước về nhiều mặt của đời sống làng xã: sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường, cơ cấu tổ chức và quan hệ xã hội, bảo vệ an ninh, thờ cúng, khuyến học, đảm bảo nghĩa vụ với Nhà nước, giữ gìn, bảo tồn văn hóa dân tộc, những quy ước đã được tuân thủ qua nhiều thế hệ để trở thành thông lệ phương hướng, luật tục của từng cộng động cư dân ở nông thôn.