Trung tâm khảo cứu và biên soạn
Địa chí Việt Nam
Chào mừng đến với website Trung tâm khảo cứu và biên soạn Địa chí Việt Nam.

Thánh địa Bagan của Myanmar được UNESCO công nhận là di sản thế giới

18/03/2024144

VietTimes -- Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc, UNESCO đã ghi tên cố đô Bagan của Myanmar là Di sản Thế giới vào ngày 6/7 vừa qua, sau gần một phần tư thế kỷ, khu phức hợp các ngôi chùa Phật giáo này lần đầu tiên được đề cử.

Mặc dù là một điểm đến tâm linh văn hóa nổi tiếng của châu Á, thu hút hàng triệu lượt du khách mỗi năm nhưng sau hơn 25 năm “tranh đấu”, cuối cùng Thánh địa Bagan của Mynamar mới được UNESCO công nhận.

Quyết định này đã nâng tầm Bagan, nơi có hơn 10.000 bảo tháp, đền thờ, tu viện và các công trình khác được xây dựng từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13 – và hứa hẹn sẽ mang lại tương lai tươi sáng cho ngành du lịch Myanmar.

Vẻ đẹp nguyên sơ và cổ kính của thánh địa Bagan

Thánh địa Phật giáo Bagan là một di tích lịch sử nổi tiếng ở vùng Mandalay, khu vực đồng bằng miền trung đất nước Myanmar. Đây là một thành phố cổ có hàng nghìn đền chùa, tự viện độc đáo còn được bảo tồn trên diện tích hàng chục km2.

Có khoảng hơn 10.000 ngôi chùa tháp Phật giáo đã được xây dựng trong khoảng diện tích 100 km vuông ở vùng đồng bằng trung tâm Myanmar dưới triều đại Bagan.

Tầng lớp thượng lưu Bagan đã cho xây dựng hàng ngàn đền thờ và tu viện trên bình nguyên Bagan. Có khoảng hơn 10.000 ngôi chùa tháp Phật giáo đã được xây dựng trong khoảng diện tích 100 km vuông ở vùng đồng bằng trung tâm Myanmar dưới triều đại Bagan, biến nơi đây thành điểm hành hương linh thiêng của những tín đồ đạo Phật.

Tại Bagan, đứng ở vị trí nào cũng thấy những ngôi chùa tháp cổ kính, nguy nga. Cảnh tượng này gây ấn tượng mạnh mẽ với những người được chứng kiến.

Tại Bagan, đứng ở vị trí nào cũng thấy những ngôi chùa tháp cổ kính, nguy nga. Cảnh tượng này gây ấn tượng mạnh mẽ với những người được chứng kiến.

Thành phố Bagan đã tồn tại từ thế kỷ 9 cho đến thế kỷ 13 trong vai trò kinh đô và là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của vương quốc Bagan.

Vương triều Bagan khởi đầu từ năm 1057 với cuộc thôn tính vương quốc Thaton của vua Anawrahta. Anawrahta đã mang về Bagan nhiều thánh tích và kinh văn Phật giáo từ Thaton cùng với nhiều nghệ sĩ, kiến trúc sư, là cơ sở cho công cuộc kiến thiết thành phố Bagan tráng lệ.

Trong thời hoàng kim, Bagan đã trở thành một trung tâm nghiên cứu tôn giáo và thế tục của toàn thế giới. Các tu sĩ và học giả từ khắp nơi như Ấn Độ, Sri Lanka và người Khmer đến Bagan để nghiên cứu ngôn điệu, ngữ âm, ngữ pháp, chiêm tinh học, thuật giả kim, y học và pháp luật.

Bagan thu hút một số lượng lớn khách du lịch mỗi năm. Ngắm bình minh và dạo chơi khinh khí cầu là hoạt động ưa thích nhất của khách du lịch.

Sự tồn tại của kinh đô Bagan chấm dứt vào năm 1287, khi đội quân Mông Cổ đánh chiếm thành phố. Cư dân Bagan ly tán đi khắp nơi, chỉ còn lại một nhóm nhỏ ở lại. Sau biến cố này, Bagan vẫn là điểm hành hương của các tín đồ Phật giáo.

Một số công trình đền đài ấn tượng vẫn tiếp tục được xây dựng. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 là giai đoạn thoái trào của Bagan, với việc xây dựng “nhỏ giọt” các công trình mới, với số lượng trên dưới 200 trong thời gian này. Chỉ còn một phần nhỏ chùa tháp được bảo trợ để duy trì hoạt động phục vụ người hành hương, hàng nghìn công trình còn lại đã bị bỏ hoang và hủy hoại theo năm tháng.

Trong số 10.000 chùa tháp từng tồn tại trong lịch sử ở Bagan, ngày nay chỉ còn lại khoảng 2.200 công trình được gìn giữ khá nguyên vẹn. Bên cạnh đó là hàng nghìn phế tích của những ngôi đền, chùa đã sụp đổ.

Chùa Ananda là một trong những ngôi chùa rộng lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất ở Bagan. Công trình được xây dựng vào năm 1105, biểu thị trí tuệ vô thượng vô biên của Phật. Chùa được làm bằng đá, có kiến trúc theo hình thập tự, ở trung tâm là khối lập phương và trên mỗi phía là tượng Phật đứng. Khối kiến trúc vươn lên với tận cùng là các đỉnh nhọn, vuốt thon búp măng, gọi là shikhara.

Đền Shwesandaw trông xa giống như một kim tự tháp, có 4 mặt, 5 tầng và một stupa (tháp hình quả chuông úp) trên đỉnh. Tương truyền, ngôi đền này được xây dựng bởi vua Anawrahta năm 1057 để lưu giữ một trong 8 sợi tóc của Phật Thích ca được đem về từ Ấn Độ.

Đền Thatbyinnyu được xây dựng vào giữa thế kỷ 12 là ngôi đền cao nhất ở Bagan và có thể được nhìn thấy tại mọi điểm ở vùng đất này.

Ở Bagan từng có những ngôi chùa được phủ vàng và những kiến trúc hoàng gia tráng lệ. Đáng tiếc rằng các cấu trúc bằng gỗ đã bị hủy hoại cùng thời gian và những mái chúa vàng không tồn tại nổi trước các hoạt động cướp bóc. Những công trình kiến trúc còn sót lại ở Bagan chính là hiện thân của một lối kiến trúc đã mất hẳn trong lịch sử.

Nhìn chung, các công trình chùa tháp ở Bagan có cấu trúc khá đồng nhất với phần trên cùng hình tháp tròn đặt trên ba tầng tháp vuông. Trong nhiều ngôi chùa còn lưu lại các tác phẩm điêu khắc giá trị mang chủ đề Phật giáo. Có thể nói mỗi một ngôi đền, chùa ở Bagan đều là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời.

… Và hành trình 25 năm chờ đợi để được UNESCO công nhận

Đề xuất của Myanmar về việc liệt kê địa điểm này vào Di sản Thế giới được công nhận của UNESCO đã được phê duyệt tại một cuộc họp của cơ quan văn hóa Liên hợp quốc ở Baku, Azerbaijan.

Hội đồng Di tích và Cảnh quan Quốc tế đã đề nghị Chính phủ Myanmar thông qua luật di sản mới và lên kế hoạch để giảm tác động của các khách sạn và sự phát triển du lịch xung quanh các ngôi đền, bảo tồn được vẻ đẹp văn hóa xưa cũ và giảm thiểu các tác động của con người tới khu di tích.

Myanmar trước đây đã có nhiều can thiệp không phù hợp trong quá trình xây sửa và tu bổ lại khu di tích khiến cho thánh địa Bagan nhiều lần không được UNESCO công nhận. Bagan lần đầu tiên được đề cử là Di sản Thế giới vào năm 1995, nhưng đề cử đã bị từ chối.

Vào những năm 90, chính phủ Myanmar cố gắng trùng tu lại những công trình bị hư hại theo thiết kế ban đầu bằng những vật liệu hiện đại nhưng kế hoạch này đã bị các chuyên gia quốc tế phản đối vì không bảo đảm sự chính xác của kiến trúc nguyên bản.

Và phải 25 năm trôi qua, với rất nhiều nỗ lực chứng minh của Chính phủ cũng như các chuyên gia bảo tồn văn hóa phật giáo Myanmar, đề cử này mới được UNESCO phê duyệt.

Động đất cũng đã làm hỏng các công trình kiến trúc cổ, gần đây nhất là vào năm 2016 khi gần 200 ngôi đền tại Bagan bị hư hại bởi trận động đất 6,8 độ richter.

Nhà ngoại giao Myanmar, Kyaw Zeya, người đại diện phái đoàn Myanmar tại cuộc họp ở Baku, nói rằng, Bagan là một di sản sống, vô cùng quý báu nhưng đã chịu đựng mọi thách thức của thời gian, thiên tai, động đất trong hơn một nghìn năm qua.

“Ngày hôm nay, chúng tôi đang kỷ niệm khoảnh khắc vui vẻ của dòng thông báo Bagan đã được công nhận trong Danh sách Di sản Thế giới. Sau đó, chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực bảo tồn và quản lý Bagan để di sản quý giá này sẽ tồn tại thêm một nghìn năm nữa”, ông Baku phát biểu.

Theo Chanel News Asia

Nguồn: viettimes.vn

Xem thêm: Bảo vệ, phát huy mạnh mẽ di sản Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt

 

Các bài viết khác

Xem thêm
Nguồn: Internet
Lễ Hội15/07/2023

Ca Huế qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu xưa và nay

Nếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền có nguồn gốc dân gian - Hát cửa đình phát tán thành một thành phần cổ truyền chuyên nghiệp là hát Ả đào vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế...

Nguồn: Internet
Địa chí30/07/2023

Làng xã thời Trần, Nghiên cứu Lịch sử, số 4. 2009.

Làng xã - đơn vị cơ sở nền tảng kinh tế - xã hội - văn hóa thời Trần đã từng được nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới nhiều góc độ và vấn đề liên quan khác nhau, chẳng hạn như: Làng xã trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên của Phùng Văn Cường. Mỹ thuật làng xã thời Trần của Chu Quang Chứ trong Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, 1977, tập I; Chế độ quân chủ quý tộc đời Trần của Nguyễn Hồng Phong, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4-1986; hoặc Chế độ đất công làng xã, trong Chế độ ruộng đất ở Việt Nam, tập I của Trương Hữu Quýnh năm 1982. Thái ấp - điền trang thời Trần (thế kỷ XIII- XIV) của Nguyễn Thị Phương Chi, xuất bản năm 2002... Nhìn chung, những công trình trên đã đưa ra cách nhìn nhận khác nhau và cung cấp thông tin hữu ích giúp hiểu biết nhiều hơn mặt này hay mặt khác về làng xã thời Trần.

Biên soạn sách địa chí và xây dựng tài liệu địa chí ở Việt Nam
Địa chí08/06/2023

Biên soạn sách địa chí và xây dựng tài liệu địa chí ở Việt Nam

“Địa chí” là thuật ngữ chỉ việc ghi chép về một vùng địa lý nào đó. Thuật ngữ “Địa chí” gồm hai từ “Địa” và “chí”. Chí, nghĩa chữ Hán là ghi chép, Địa trong chữ Hán có nhiều nghĩa khác nhau.