
Hồ chứa nước do người Nabataea xây dựng ở thành phố cổ đại Hawara. Ảnh: Larry W. Mays
Người Nabataea sinh sống ở phía bắc Arab và phía nam Levant vào thời cổ đại (từ năm 168 trước Công nguyên đến năm 106). Khí hậu sa mạc khiến họ gặp nhiều khó khăn trong trồng trọt, nhưng họ đã tạo ra một hệ thống thu gom nước tinh vi, góp phần xây dựng nên vương quốc hùng hậu ở trung tâm Arab.
Do môi trường khô nóng, người Nabataea phải tìm cách đảm bảo có đủ nguồn cung cấp nước cho cư dân và tưới tiêu cho cây trồng. Một phương pháp để thu thập nước là trồng một cây ăn quả giữa khu vực hình phễu nông. Khi trời mưa, tất cả nước đổ vào trung tâm phễu. Vùng phễu này sẽ được bịt kín bằng đất hoàng thổ để lưu giữ nước. Nhưng công nghệ dẫn nước của người Nabatea còn bao gồm nhiều công trình khác như xây cầu dẫn nước, đê đập, bồn nước và bể chứa kết hợp các phương pháp thu thập nước mưa, nước lũ, nước ngầm và suối tự nhiên.
Với hệ thống phức tạp trên, những người dân Nabataea có thể đảm bảo nguồn cung cấp nước liên tục quanh năm. Họ hiểu rõ mọi nguồn nước sẵn có và biết cách tốt nhất để theo dõi, khai thác, duy trì và sử dụng.
Ở khu vực không có nước, người Nabataea đào giếng ở các địa điểm thuận tiện và giữ bí mật với mọi người ở quốc gia khác. Nhờ đó, họ luôn có nước uống dồi dào, theo nhà sử học người Hy Lạp Diodorus. Họ cũng chuẩn bị những bể chứa nước dưới lòng đất và che phủ bằng vữa. Sau khi đổ đầy nước mưa vào bể chứa, họ bịt kín miệng bể, khiến chúng bằng phẳng với nền đất xung quanh và để lại ký hiệu mà chỉ người dân trong cộng đồng mới có thể nhận ra.
Người Nabataea còn phát triển hệ thống đường ống dẫn nước. Thiết kế của hệ thống tận dụng những chỗ trũng nhiều sỏi đá để lọc nước chảy qua. Hiểu biết sâu rộng về thủy lực cho phép họ tạo ra một hệ thống tối đa hóa tốc độ dòng chảy đồng thời giảm thiểu rò rỉ.
Những công trình thu gom nước của người Nabatea dường như vô hình với người qua đường và chỉ có thể được tìm thấy bởi người biết tới sự tồn tại của chúng. Hệ thống phức tạp này thu thập nước từ các ngọn núi. Người Nabatean đẽo đá thành các gờ để thu thập dòng nước ban đầu, đồng thời đào kênh dẫn ở sườn núi, đưa nước vào bể chứa và đập để sử dụng sau. Để giữ cho nước mát và ngăn bay hơi, họ còn xây những bức tường và cột đá để tạo bóng râm. Các bể chứa đều trát một hỗn hợp chống thấm, ngăn nước rò rỉ. Một số bể vẫn được sử dụng ngày nay.
Nabataea là ví dụ hoàn hảo về nền văn minh đi trước thời đại. Nhờ trí tuệ và sự sáng tạo, họ có thể tạo ra hệ thống thu thập và phân phối nước cho phép vương quốc phát triển thịnh vượng suốt nhiều năm.
An Khang (Theo Ancient Origins)
Xem thêm: Những ngọn núi thiêng: Núi Quyết, vùng đất tứ linh
Vào các ngày 20/2 và 21/2 (tức các ngày 11, 12 tháng Giêng năm Giáp Thìn), tại Khu di tích lịch sử, văn hóa Đền Trần-Chùa Tháp (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) đã diễn ra các nghi lễ quan trọng của Lễ hội khai ấn Đền Trần, đó là lễ rước kiệu Ngọc Lộ và lễ nước, tế cá.
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay còn bảo lưu một số truyền thuyết về hát Xoan: Ở làng Phù Đức xã Kim Đức thành phố Việt Trì còn kể lại rằng: " Từ thuở Vua Hùng dựng nước, một hôm vào buổi trưa ngày 13 tháng chạp, ba anh em vua Hùng đi tìm đất mở mang kinh đô có đi qua thôn Phù Đức và An Thái dừng chân nghỉ trưa tại một khu rừng gần thôn. Trong khi ngồi nghỉ, ba anh em Vua Hùng nhìn ra bãi cỏ trước mặt, thấy có một đám trẻ chăn trâu vừa chơi các trò chơi như đánh vật, kéo co lại vừa hát những khúc ca nghe rất hay. Thấy vậy, người anh cả nhà họ Hùng liền bảo hai em dạy các trẻ mục đồng hát một số điệu mà họ mang theo. Về sau, để tưởng nhớ công lao của ba anh em vua Hùng, hàng năm cứ đến ngày 13 tháng chạp âm lịch, dân làng lại làm bánh nẳng để cúng vào buổi trưa và cúng thịt bò vào buổi chiều để thờ anh Cả vua Hùng được nhân dân suy tôn là đức Thánh Cả. Đến ngày mùng 2 và mùng 3 tháng giêng âm lịch, dân làng Phù Đức mở hội cầu để cầu Đức Thánh Cả phù hộ cho "Dân khang, vật thịnh, mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt". Trong hội cầu, họ diễn lại cảnh hát xướng để nhớ lại sự tích các vua Hùng dạy dân múa hát và chơi các trò chơi dân gian. Do vậy, hội cầu đã trở thành lệ làng hàng năm và bao giờ cũng có trò hát xướng mở đầu...".
(HNMCT) - Khởi công xây dựng từ thế kỷ XII, rồi bị tàn phá hầu như hoàn toàn trong cuộc chiến ở thế kỷ XVII, nhưng quảng trường La Grand Place (thủ đô Brussels, Vương quốc Bỉ) vẫn được hồi sinh như một câu chuyện thần kỳ. Thành công vượt trội trong nỗ lực phục dựng, bảo tồn cũng như phát huy giá trị di sản là những lý do giúp La Grand Place được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thế giới vào năm 1998.