Trung tâm khảo cứu và biên soạn
Địa chí Việt Nam
Chào mừng đến với website Trung tâm khảo cứu và biên soạn Địa chí Việt Nam.

Hệ thống dẫn nước tinh vi của người Arab cổ đại

17/10/2024789

Nabataea, một vương quốc Arab cổ đại, đã xây dựng hệ thống thu gom và phân phối nước vẫn còn sử dụng được sau hàng nghìn năm.

Hồ chứa nước do người Nabataea xây dựng ở thành phố cổ đại Hawara. Ảnh: Larry W. Mays

Người Nabataea sinh sống ở phía bắc Arab và phía nam Levant vào thời cổ đại (từ năm 168 trước Công nguyên đến năm 106). Khí hậu sa mạc khiến họ gặp nhiều khó khăn trong trồng trọt, nhưng họ đã tạo ra một hệ thống thu gom nước tinh vi, góp phần xây dựng nên vương quốc hùng hậu ở trung tâm Arab.

Do môi trường khô nóng, người Nabataea phải tìm cách đảm bảo có đủ nguồn cung cấp nước cho cư dân và tưới tiêu cho cây trồng. Một phương pháp để thu thập nước là trồng một cây ăn quả giữa khu vực hình phễu nông. Khi trời mưa, tất cả nước đổ vào trung tâm phễu. Vùng phễu này sẽ được bịt kín bằng đất hoàng thổ để lưu giữ nước. Nhưng công nghệ dẫn nước của người Nabatea còn bao gồm nhiều công trình khác như xây cầu dẫn nước, đê đập, bồn nước và bể chứa kết hợp các phương pháp thu thập nước mưa, nước lũ, nước ngầm và suối tự nhiên.

Với hệ thống phức tạp trên, những người dân Nabataea có thể đảm bảo nguồn cung cấp nước liên tục quanh năm. Họ hiểu rõ mọi nguồn nước sẵn có và biết cách tốt nhất để theo dõi, khai thác, duy trì và sử dụng.

Ở khu vực không có nước, người Nabataea đào giếng ở các địa điểm thuận tiện và giữ bí mật với mọi người ở quốc gia khác. Nhờ đó, họ luôn có nước uống dồi dào, theo nhà sử học người Hy Lạp Diodorus. Họ cũng chuẩn bị những bể chứa nước dưới lòng đất và che phủ bằng vữa. Sau khi đổ đầy nước mưa vào bể chứa, họ bịt kín miệng bể, khiến chúng bằng phẳng với nền đất xung quanh và để lại ký hiệu mà chỉ người dân trong cộng đồng mới có thể nhận ra.

Người Nabataea còn phát triển hệ thống đường ống dẫn nước. Thiết kế của hệ thống tận dụng những chỗ trũng nhiều sỏi đá để lọc nước chảy qua. Hiểu biết sâu rộng về thủy lực cho phép họ tạo ra một hệ thống tối đa hóa tốc độ dòng chảy đồng thời giảm thiểu rò rỉ.

Những công trình thu gom nước của người Nabatea dường như vô hình với người qua đường và chỉ có thể được tìm thấy bởi người biết tới sự tồn tại của chúng. Hệ thống phức tạp này thu thập nước từ các ngọn núi. Người Nabatean đẽo đá thành các gờ để thu thập dòng nước ban đầu, đồng thời đào kênh dẫn ở sườn núi, đưa nước vào bể chứa và đập để sử dụng sau. Để giữ cho nước mát và ngăn bay hơi, họ còn xây những bức tường và cột đá để tạo bóng râm. Các bể chứa đều trát một hỗn hợp chống thấm, ngăn nước rò rỉ. Một số bể vẫn được sử dụng ngày nay.

Nabataea là ví dụ hoàn hảo về nền văn minh đi trước thời đại. Nhờ trí tuệ và sự sáng tạo, họ có thể tạo ra hệ thống thu thập và phân phối nước cho phép vương quốc phát triển thịnh vượng suốt nhiều năm.

An Khang (Theo Ancient Origins)

Xem thêm: Những ngọn núi thiêng: Núi Quyết, vùng đất tứ linh

Các bài viết khác

Xem thêm
Đền Đồng Bằng - Một di sản văn hóa nổi tiếng

Đền Đồng Bằng - Một di sản văn hóa nổi tiếng

Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì vùng đất Đào Động xưa, thời Hùng Vương thuộc về bộ Thang Tuyền; thời Lý - Trần thuộc phủ Long Hưng, cuối thời Trần thuộc Hà Côi, phủ An Tiêm; thời Lê thuộc tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Phượng, phủ Thái Bình. Từ năm 1890, thuộc về huyện Phụ Dực. Năm 1969, theo quyết định phân chia lại làng xã của UBND tỉnh, Đào Động thuộc về xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Nguồn: Internet
Địa chí25/08/2023

Hội An - Di sản văn hóa thế giới, Nghiên cứu lịch sử số 4 (2004)

Sau khi gia nhập Công ước Di sản thế giới năm 1987, đến nay Việt Nam đã có 6 di sản được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới (vật thể và phi vật thể) và Di sản thiên nhiên thế giới, trong đó Hội An là Di sản văn hoá thế giới được công nhận vào ngày 4-12-1999 (1). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu và nhận thức qua nhiều thập kỷ của các nhà khoa học Việt Nam và thế giới, trong đó có nhiều cống hiến quan trọng của các học giả Nhật Bản.

Nguồn: Internet

Đền Đông Cuông - Một điểm khởi đầu của tục thờ nữ thần Việt, Số 3 (16) - 2006 - Di sản văn hóa vật thể

Vượt qua “thời gian chiêm bao” mà tư duy con người còn chìm trong không gian hoang dã với hiện tượng thờ các lực lượng "hồn nhiên" như cây cỏ, đất đá, một khúc của ngã ba sông,... để rồi con người tiến lên xây dựng một tổ chức mang tính xã hội. Trên đường đi đó dần dần con người định hình nhân dạng cho các thần linh mà trong đó một vị thần linh cơ bản đầu tiên là nữ thần. Có thể tin được điều đó, bởi trong buổi hồng hoang, sự phân công lao động sớm nhất là phân công lao động nam - nữ. Nam thì săn bắn/bắt, công việc này bấp bênh, hôm được hôm không, thiếu tính chất thường xuyên để đảm bảo cuộc sống. Còn nữ giới với hái lượm rau củ trong rừng, đó là lương thực cơ bản để nuôi sống gia đình. Mặc nhiên vai trò của nữ trở nên cực kỳ quan trọng, do đó đã dẫn đến một hiện tượng khi nhân dạng hóa thần linh thì vị thần đó tất yếu mang dạng nữ. Khởi đầu, người Việt trông cậy vào của cải được thu lượm từ rừng nên người ta tôn trọng thần rừng, hội các điều kiện lại thì vị thần nhân dạng đầu tiên có thể nghĩ được là bà chúa rừng với nhiều chức năng khác nhau - Trước hết là thần của cải - Trong quá trình tồn tại, người ta hội dần vào bà nhiều chức năng, đầu tiên là bà “mẹ Thiêng liêng" với quyền năng vô bờ bến; một bà “mẹ Thế gian”, bởi người ta coi từ bà mà muôn loài nảy sinh và phát triển. Đồng thời bà là một thần linh đứng đầu bách thần nên bà còn mang tư cách là một đấng “vô cùng” - người Việt đã dần hội tất cả những gì linh thiêng liên quan vào chính bà Đông Cuông - một bà mẹ vũ trụ khởi nguyên của người Việt.