Việt Nam sở hữu một dãy núi được mệnh danh hùng vĩ nhất Đông Dương về tầm vóc và đa dạng sinh học. Nếu tính về chiều dài, nó dài khoảng 1.100 km, nếu tính về tổng diện tích thì tầm 22 triệu hecta. Dãy núi được nói đến chính là dãy Trường Sơn. Nó được mệnh danh là “xương sống” của bán đảo Đông Dương hay “Đệ nhất thiên nhiên Đông Dương”.

Dãy Trường Sơn nằm giữa Việt Nam, Lào, Campuchia. Nó là biên giới tự nhiên của ba nước, được phân chia thành thành 2 vùng chính Bắc và Nam. Atlat Địa lý Việt Nam cho biết, Trường Sơn chạy qua 21 tỉnh, thành như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế… Dãy núi này còn có nhiều khối núi hùng vĩ hàng đầu Đông Dương như: Hoành Sơn, Bạch Mã, Kẻ Bàng, Ngọc Linh, Chư Yang Sin…

Điểm đầu của dãy Trường Sơn là sông Cả, điểm cuối giáp miền Đông Nam Bộ. Nó được chia làm hai phần Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam, ranh giới giữa 2 phần thuộc địa phận Đà Nẵng – Quảng Nam. Trong đó, địa thế Trường Sơn Bắc cao sừng sững, đỉnh núi cao thường đạt từ 1.500 – 2.000 mét trở lên. Trong khi đó, địa thế núi Trường Sơn Nam thì khá thấp, dần chuyển tiếp về gò đồi và cao nguyên hình dạng sóng.

Giới khoa học toàn cầu đến nay vẫn không ngừng ngạc nhiên về sự đa dạng sinh học của dãy Trường Sơn. Nơi đây được xem như kho báu lớn của nhân loại. Riêng Bắc Trường Sơn có 115 loài thú, 416 loài chim, 87 loài bò sát – lưỡng cư, 119 loài cá nước ngọt, 760 loài động vật không xương sống và khoảng 1.500 loài thực vật. Dự đoán nơi đây còn hơn 1.500 loài thực vật chưa được phát hiện.

Dãy Trường Sơn không chỉ có ý nghĩa về mặt địa lý, sinh học với nước ta mà còn có dấu ấn đậm nét trong lịch sử. Thời kỳ chiến tranh, đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng chạy sát bên dãy núi Trường Sơn có vai trò vô cùng quan trọng.

Dưới thời Pháp thuộc, dãy Trường Sơn được gọi là dãy Trung Kỳ. Lý do bởi nó chủ yếu chạy trên địa phận Trung Kỳ theo cách phân chia hành chính của người Pháp.
Theo SHTT&ST
Xem thêm: Quốc đảo Maldives: Những điều thú vị
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay còn bảo lưu một số truyền thuyết về hát Xoan: Ở làng Phù Đức xã Kim Đức thành phố Việt Trì còn kể lại rằng: " Từ thuở Vua Hùng dựng nước, một hôm vào buổi trưa ngày 13 tháng chạp, ba anh em vua Hùng đi tìm đất mở mang kinh đô có đi qua thôn Phù Đức và An Thái dừng chân nghỉ trưa tại một khu rừng gần thôn. Trong khi ngồi nghỉ, ba anh em Vua Hùng nhìn ra bãi cỏ trước mặt, thấy có một đám trẻ chăn trâu vừa chơi các trò chơi như đánh vật, kéo co lại vừa hát những khúc ca nghe rất hay. Thấy vậy, người anh cả nhà họ Hùng liền bảo hai em dạy các trẻ mục đồng hát một số điệu mà họ mang theo. Về sau, để tưởng nhớ công lao của ba anh em vua Hùng, hàng năm cứ đến ngày 13 tháng chạp âm lịch, dân làng lại làm bánh nẳng để cúng vào buổi trưa và cúng thịt bò vào buổi chiều để thờ anh Cả vua Hùng được nhân dân suy tôn là đức Thánh Cả. Đến ngày mùng 2 và mùng 3 tháng giêng âm lịch, dân làng Phù Đức mở hội cầu để cầu Đức Thánh Cả phù hộ cho "Dân khang, vật thịnh, mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt". Trong hội cầu, họ diễn lại cảnh hát xướng để nhớ lại sự tích các vua Hùng dạy dân múa hát và chơi các trò chơi dân gian. Do vậy, hội cầu đã trở thành lệ làng hàng năm và bao giờ cũng có trò hát xướng mở đầu...".
Khuông Việt Ngô Chân Lưu (932-1011)(1) được coi là vị Tăng thống đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vị trí của ông đối với Phật giáo Việt Nam cũng như sự nghiệp dựng nước và giữ nước trải suốt hai triều Đinh Lê đã không ngừng được khẳng định đời này qua đời khác trong các tài liệu văn hiến Việt Nam. Tuy vậy, xung quanh thân thế và sự nghiệp của ông vẫn còn rất nhiều điểm bị che mờ bởi sương khói lịch sử và sự ngộ nhận chồng chất qua các đời.
Có lẽ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là vị Nữ thần - Thánh Mẫu được dân gian truyền tụng với nhiều huyền thoại, truyền thuyết và cũng là vị thần linh được các nhà văn, thơ Nho học để công san định thần tích, thần phả, thể hiện trên các bi ký, các tác phẩm viết bằng chữ Hán Nôm. Theo thống kê sơ bộ, đến nay có gần 100 đầu sách và tư liệu viết về Bà, trong đó có các tư liệu Hán Nôm, chữ quốc ngữ và các thứ ngôn ngữ nước ngoài, nhiều nhất là tiếng Pháp, Anh, trong đó đặc biệt quan trọng là các nguồn tư liệu cổ Hán Nôm (1).